|
|
Nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ |
Ở khía cạnh xã hội, hát xẩm được xem như một sinh hoạt âm nhạc chuyên nghiệp, bởi những người mù đã dùng nó làm phương tiện cho việc mưu sinh. Do gần suốt cuộc đời phải kiếm sống bằng việc ca hát hàng ngày, cộng với năng khiếu bẩm sinh, người mù hát xẩm đã hình thành một lối đàn hát với những làn điệu riêng biệt khá đặc sắc. Ngày nay, hát xẩm được xem như một trong những bộ môn nghệ thuật truyền thống và trong Liên hoan Tiếng hát dân ca 2005 vừa qua, chúng ta cũng thấy xuất hiện những tiết mục hát xẩm.
Để hiểu thêm một vài khía cạnh về hát xẩm, Giai Điệu Xanh đã có cuộc phỏng vấn nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ. Ông hiện sinh sống tại Hà Nội, đã có hơn 20 năm làm việc với một số làng xẩm, trùm xẩm... và là người ghi âm lại những bài xẩm cơ bản từ các nghệ nhân trong dịp tập trung lực lượng các nghệ nhân hát xẩm đông nhất vào cuối năm 1954...
Ông có thể cho biết tình hình chung của nghệ thuật hát xẩm hiện nay?
Trước khi nói đến tình hình hiện nay, cũng cần đề cập đến sự kiện cách đây khoảng 50 năm. Đó là vào cuối năm 1954 đầu 1955, để chống lại âm mưu của Pháp lôi kéo nhân dân miền Bắc di cư vào Nam sau Hiệp định Genève, Nhà nước đã tập trung nhiều nhóm hát xẩm (gồm 34 nghệ nhân), cử người viết bài và đến các vùng duyên hải phía Bắc biểu diễn nhằm vận động nhân dân chống lại phong trào di cư. Đó là dịp tập trung rất nhiều nghệ nhân xẩm của các vùng Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương, Bắc Giang, Hà Nội...
Nhưng sau đợt đó, người hát xẩm không được hành nghề nữa. Chúng ta đã thành lập Hội Người mù, mà một phần trong đó là những nghệ nhân hát xẩm, họ được dạy những nghề về thủ công, và sống bằng nghề mới này, tình trạng đó kéo dài mãi cho đến tận ngày nay. Hát xẩm chỉ thỉnh thoảng xuất hiện trên sóng phát thanh, trên sân khấu như một tiết mục văn nghệ thuần túy do những diễn viên các đoàn chuyên nghiệp biểu diễn chứ hát xẩm không tồn tại với hình thái xã hội mà nó vốn có.
Gần đây, khi công tác sưu tầm dân ca được chú trọng, bà Hà Thị Cầu ở Hội Người mù tỉnh Ninh Bình đã giúp dạy lại những bài hát xẩm nhằm truyền đạt lại cho lớp trẻ lưu giữ nghệ thuật này, chứ sinh hoạt hát xẩm như ngày xưa thì không còn.
Theo ông, hát xẩm có bao nhiêu loại, bao nhiêu làn điệu và ngày nay chúng ta còn lưu giữ được bao nhiêu?
|
|
Nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu |
Người ta thường nói có xẩm tàu điện, xẩm bến đò, xẩm chợ... nhưng đó không phải là những tiêu chí phân loại, Vì vấn đề mùa màng, thời tiết... ảnh hưởng đến việc tập trung đông người mà tùy theo tháng trong năm, các nhóm xẩm có khi hoạt động trên tàu, ở nông thôn, ở chợ... Về làn điệu, xẩm có rất nhiều bài, nhưng có 7 bài đặc trưng của xẩm đó là Xẩm chợ, Chênh bong, Riềm huê, Ba bực nhịp bằng, Phồn huê, Hát ai và Xẩm thập ân... Toàn bộ những điệu xẩm này đã được tôi ghi âm trong đợt tiếp xúc với các nghệ nhân xẩm vào năm 1955 như đã nói ở trên.
Trong xã hội ngày nay, bối cảnh của những người ăn xin hát dạo gần như không còn, vì thế hát xẩm phải chăng là đã chấm dứt sứ mệnh “lịch sử” nghệ thuật của nó?
Trong hoàn cảnh hiện nay, chúng ta đang quan tâm đến âm nhạc truyền thống, hát xẩm sẽ như thế nào cũng là điều khó nói. Bởi hát xẩm là nghề của những người mù ăn xin, nếu tách khỏi người mù thì xẩm không thể phát triển được, nhưng trong xã hội chúng ta, nghề hát xẩm không được khuyến khích...
Nếu hát xẩm tồn tại không cùng với bối cảnh vốn có của nó (ví dụ như hình thức CLB), liệu những người hát xẩm ngày nay có thể diễn đạt hết những tâm trạng mà các nghệ nhân xẩm đã gởi vào trong các làn điệu?
Thực ra những bài hát xẩm không phải chỉ là hát về tâm trạng của người mù, sáng tạo nghệ thuật của họ là nói về nhân tình thế thái. Nhưng họ là những người tạo nên nét đặc trưng cho nghệ thuật hát xẩm.
Như vậy, không cần phải gắn với bối cảnh ăn xin cũng có thể trình diễn hoàn hảo những khía cạnh của nghệ thuật hát xẩm?
Tôi cho rằng không cần ăn xin, nhưng phải là người mù thì mới có thể hát xẩm hay.
Theo ông điểm nổi bật nhất của nghệ thuật hát xẩm là gì?
Trước hết, họ đã tạo được những âm điệu riêng, những âm điệu đặc sắc do người mù tạo nên, những người cảm nhận cuộc sống qua đôi tai. Khuyết tật giác quan của họ khiến mọi người dễ cảm thông, họ còn là người hát hay. Khi hát đúng tâm trạng người dân, họ càng được yêu mến, ngưỡng mộ.
Ông có thể đánh giá vai trò của nghệ thuật hát xẩm trong tương quan với những loại hình âm nhạc truyền thống khác của Việt Nam?
Tôi đã nghiên cứu chèo, ca trù, trống quân, hát văn... và thấy rằng, xẩm là loại âm nhạc kể chuyện bám sát văn học dân gian, nội dung đề cập đến những vấn đề của đời sống. Các đoàn nghệ nhân ca trù, chèo, hát văn ... đi biểu diễn ở nước ngoài hầu như bao giờ cũng có diễn hát xẩm kèm theo. Theo tôi, hát xẩm có thể là một trong những thể loại hát mang nhiều tính dân tộc nhất, với một nghệ thuật tinh tế. Tuy rằng có một số vấn đề nó không thể sánh với ca trù, hát văn... nhưng rõ ràng xẩm phải mang những nét nghệ thuật đặc sắc mới được dân gian ưu ái như thế.
Ngày nay, để bảo tồn loại hình nghệ thuật này, theo ông chúng ta phải thực hiện như thế nào?
Trước đây cũng có ý kiến đề nghị cho những người hát xẩm hành nghề để bảo tồn nghệ thuật này, nhưng việc đó có ảnh hưởng không tốt đến phong hóa, cảnh quan... nhất là ở thủ đô. Hiện nay những trường khiếm thị trên cả nước có thể dạy cho các em môn hát xẩm bên cạnh việc giảng dạy các môn âm nhạc khác. Đó cũng là môi trường tốt để hát xẩm tồn tại và có cơ hội phát triển, bởi trong quá khứ, hát xẩm từng xuất hiện và tồn tại trong thế giới người mù.
Xin cảm ơn ông.
|